THIÊN MỆNH

Nguyễn Thành Trung, sinh 14 tháng 7 năm 1988, nhằm ngày Canh Ngọ tháng Kỷ Mùi năm Mậu Thìn giờ Nhâm Ngọ.

1. TIÊN THIÊN

Quẻ chính: Ðịa lôi phục, hào 2.

Phục Tự Quái
復 序 卦
Bác giả bác dã.
剝 者 剝 也
Vật bất khả dĩ chung tận.
物 不 可 以 終 盡。
Bác cùng thượng phản hạ.
剝 窮 上 反 下,
Cố thụ chi dĩ Phục.
故 受 之 以 復。

Đại ý:

Quẻ Phục đề cập đến 2 vấn đề:

1. Sư hồi phục của khí Dương.

2. Sự hồi phục của nhân tâm về cùng đạo lý.

Phục đánh dấu 1 thời kỳ mà vũ trụ sẽ bắt đầu co lại. Vì nếu vũ trụ khuếch tán được, triển dương được, thì cũng có thể co lại được, phản phục được.

Vì thời gian gắn liền với không gian nên cũng có thể phản phục được. Cho tới nay, ít ai nghĩ được rằng thời gian cũng có hai chiều, hai hướng, cũng có thể vãng phục như không gian.

Xét về phương diện Lịch sử, thì khi tới quẻ Phục, nhân loại đã đạt tới một mức độ văn minh vật chất tuyệt đích.

Đối với con người. Quẻ Phục là lúc con người trở nên minh triết, giác ngộ, biết được Thiên Mệnh, biết được rằng trong lòng mình vốn có sẵn Lòng Trời.

Thoán từ:

復:亨。 出 入 無 疾,朋 來 無 咎。 反 復 其 道,七 日 來 復,利 有 攸 往。

Phục. Hanh. Xuất nhập vô tật. Bằng lai vô cữu. Phản phục kỳ đạo. Thất nhật lai phục. Lợi hữu du vãng.

Đại ý:

Phục là Dương khí mới trở về (Phục), và sẽ hứa hẹn một vận hội hanh thông mới (Hanh).

Người quân tử tuy biết rằng: Cơ phục hồi đạo lý đã trở lại, nhưng chớ nên vội vàng, chớ nên hấp tấp mà hại cho đạo lý, cho lý tưởng (Xuất nhập vô tật).

Hãy ráng chờ cho thêm đồng tâm, đồng chí (Bằng lai), rồi mới tránh khỏi được những chuyện lỗi lầm (Vô cữu).

Thoán truyện:

彖 曰 : 復 亨 ﹔ 剛 反,動 而 以 順 行,是 以 出 入 無 疾,朋 來 無 咎。反 復 其 道,七 日 來 復,天 行 也。 利 有 攸 往,剛 長 也。 復 其 見 天 地 之 心 乎?

Phục hanh. Cương phản. Động nhi dĩ thuận hành. Thị dĩ xuất nhập vô tật. Bằng lai vô cữu. Phản phục kỳ đạo. Thất nhật lai phục. Thiên hành dã. Lợi hữu du vãng. Cương trưởng dã. Phục kỳ kiến thiên địa chi tâm hồ.

Đại ý:

Người quân tử tuy nay gặp hoàn cảnh thuận tiện hơn để hoạt động, nhưng phải hành động cho khéo léo, cho hợp với đạo lý, như vậy mới không chiêu hại cho mình (Động nhi dĩ thuận thị dĩ xuất nhập vô tật).

Lúc này là lúc con người trở về để tìm cho ra được Thiên địa chi tâm. Tức là tìm ra được Đạo tâm vi tế trong lòng mình.

Chỉ khi nào tâm hồn con người chí hư, chí tĩnh, mới thấy được Thiên địa chi tâm.

Hào Lục Nhị của quẻ Ðịa lôi phục:

六 二 : 休 復,吉。

象 曰: 休 復 之 吉,以 下 仁 也。

Lục nhị. Hưu phục. Cát.

Tượng viết: Hưu phục chi cát. Dĩ hạ nhân dã.

Đại ý:

Hào Lục nhị là hạng người trung chính, lại có cái may mắn ở gần những người hiền đức.

Họ là những người thành khẩn, muốn khắc kỷ, phục lễ, lấy sự hoàn thiện làm tiêu chuẩn cho đời mình, và công cuộc tu thân đối với họ cũng chẳng mấy khó khăn. Vì thế, dùng chữ Hưu phục.

Hào hai chỉ nói đến tu thân, đến sự hoàn thiện để làm tiêu chuẩn cho cuộc đời, nên đặc biệt có chữ Nhân.

Lại xét đến quẻ phụ: Khôn Vi Địa

坤:元,亨,利 牝 馬 之 貞。君 子 有 攸 往,先 迷 后 得 主,利 西 南 得 朋,東 北 喪 朋。安 貞,吉。

Khôn. Nguyên hanh. Lợi tẫn mã chi trinh. Quân tử hữu du vãng. Tiên mê hậu đắc. Chủ lợi Tây Nam đắc bằng. Đông Bắc táng bằng. An trinh cát.

Đại ý:

Quẻ Khôn chủ trương rằng:

1. Đất Trời cộng tác chặt chẽ với nhau, để sinh ra muôn ngàn biến hóa.

2. Đất Trời là cặp ngẫu lực Âm Dương, luôn luôn tác động, luôn luôn hỗ trợ nhau, để hoàn thành công trình sinh dục vạn vật.

3. Càn là mầm mộng sinh hóa, là tinh thần, là nguồn sống, là sinh khí, là hạt, là nhân. Khôn là vỏ, là môi trường hoạt động, là hình hài, sắc tướng, là vật chất hữu hình bên ngoài.

4. Đất Trời trường cửu ngang nhau, cùng nhau góp công trình sinh dục vạn vật, nhưng chính, tùy, đôi đường phân cách. Trời là chủ chốt. Tinh thần là chủ chốt. Đất là tùy thuộc. Xác thân là tùy thuộc. Hoàn cảnh vật chất là tùy thuộc.

Định được lẽ tôn ti như vậy, mới tránh được nhiều điều lầm lỗi, nhiều hung họa tai ương.

Quẻ Khôn dạy ta phải biết nhìn xa, trông rộng, biết lo lường, ngăn chặn ngay từ lúc hung họa mới manh nha.

Mặt khác, nếu biết tích đức, tu thân, gặp điều lành dẫu là nhỏ mấy, cũng tha thiết mà làm, mà gom, mà góp, cứ như thế thì lo chi không được phúc khánh miên trường.

2. HẬU THIÊN

Quẻ biến Trạch Địa Tụy, hào 5.

Tụy Tự Quái
萃 序 卦
Cấu giả ngộ dã
姤 者 遇 也
Vật tương ngộ nhi hậu tụ
物 相 遇 而 後 聚
Cố thụ chi dĩ Tụy
故 受 之 以 萃
Tụy giả tụ dã.
萃 者 聚 也.

Đại ý:

Tụy nghĩa là tụ hợp. Tụ hợp nhỏ thì thành gia đình, đoàn thể; lớn thì thành quốc gia, xã hội. Có tụ hợp thì mới đi đến chỗ hanh thông, vì con người không thể như Robinson cô thân, chích ảnh nơi hoang đảo, mà phải có bạn bè thân thích để giải quyết mọi chuyện đời.

Thoán viết:

萃 . 亨 . 王 假 有 廟 . 利 見 大 人 . 亨 . 利 貞 . 用 大 牲 吉 . 利 有 攸 往.

Tụy. Hanh. Vương cách hữu miếu. Lợi kiến đại mhân. Hanh. Lợi trinh. Dụng đại sinh cát. Lợi hữu du vãng.

Đại ý:

Tụ hợp là điều hay, điều tốt (Tụy hanh). Nhưng tụ hợp phải tuân theo những qui luật, những đường lối nhất định.

1. Trước tiên, phải có tín ngưỡng, có chủ thuyết để nối kết lòng người. Vì thế vua phải ra nơi miếu tông làm việc tế tự (Vương cách hữu miếu).

2. Muốn qui dân, tụ chúng, phải có người lãnh đạo cho hay, cho giỏi. Gặp được người lãnh đạo hay, dân nước sẽ bước vào con đường hanh thông, thái thịnh (Lợi kiến đại nhân. Hanh).

3. Phải có chính nghĩa, chính đạo, mới hay, mới lợi (Lợi trinh). Gian manh cũng có thể vì lợi lộc mà kết thành bầy bọn, nhưng họ sẽ làm hại thiên hạ. Anh hùng, Hào kiệt trên đời chiêu dân, lập quốc vì có chính nghĩa, nên mới lưu danh muôn thuở.

4. Lại phải thi hành một công chuyện gì ích quốc, lợi dân, cho dân mục kích nhãn tiền, như vậy mới hay, mới lợi (Lợi hữu du vãng).

Hào Cửu Ngũ của quẻ Trạch Địa Tụy

九 五. 萃 有 位 . 無 咎 . 匪 孚 . 元 永 貞 . 悔 亡 .

象 曰 . 萃 有 位 . 志 未 光 也 .

Cửu ngũ. Tụy hữu vị. Vô cữu. Phỉ phu. Nguyên vĩnh trinh. Hối vong.

Tượng viết: Tụy hữu vị. Chí vị quang dã.

Đại ý:

Hào Cửu ngũ là bậc quân vương, ở ngôi vị lãnh đạo. Đức thịnh, Vị tôn, tất nhiên mọi người sẽ qui phục (Tụy hữu vị. Vô cữu).

Nếu còn có người chưa phục, thì hãy chau dồi đức độ của đấng quân vương, hãy theo đúng đường lối của đấng quân vương thực thi ba tôn chỉ: Nguyên, Vĩnh, Trinh.

Nguyên là vị quân chủ có đức độ, tài ba. Vĩnh là phải mưu đồ những công trình trường cửu cho dân. Trinh là thực thi chánh đạo. Được như vậy, khỏi cần hối hận, phàn nàn (Nguyên vĩnh trinh. Hối vong).

Xét đến quẻ hỗ Phong Sơn Tiệm.

Tiệm Tự Quái
漸 序 卦
Cấn giả chỉ dã.
艮 者 止 也
Vật bất khả dĩ chung chỉ.
物 不 可 以 終 止
Cố thụ chi dĩ Tiệm.
故 受 之 以 漸
Tiệm giả, tiến dã.
漸 者 進 也

Đại ý:

Tiệm là tiến, nhưng mà tiến có tuần tiết, thứ đệ, lớp lang, trật tự. Quẻ Tiệm đến sau quẻ Cấn, vì lẽ Trời, ngưng lại động, lại tiến.

Tiệm là tiến từ từ, có tuần, có tiết, chứ không đốt giai đoạn. Trong quẻ này, Thánh nhân đã đề cao nguyên lý ấy bằng nhiều cách:

1. Phong Sơn Tiệm là cây mọc trên núi, cây mọc trên núi dĩ nhiên là mọc chậm hơn cây mọc dưới đồng bằng. Nhưng khi đã lên cao, thời ảnh hưởng đến phong cảnh cả vùng. Người quân tử cũng theo đó mà bắt chước.

2. Tượng nói về công trình tích lũy nhân đức, cải thiện phong tục, đó cũng là một công trình lâu lai, trường cửu.

Hào Từ lấy chim Hồng, để mô tả sự tiến có tuần tự, tuần tiết.

Chim hồng là một loài chim viễn xứ, cứ mùa lá rụng thì bay về Nam, cứ lúc băng tan thì trở về Bắc. Thế là hành xử có tuần tiết.

Lúc bay thì có thứ tự, con lớn bay trước, con nhỏ theo sau, có lớp lang hẳn hoi, Thế là hành xử có thứ tự.

Sáu Hào lại mô tả con chim Hồng tiến từ thấp, lên cao nguyên. Như vậy bài học của quẻ này thật là rõ ràng.

1. Ở đời muốn nên công, đừng có vội vàng, đừng có đốt giai đoạn.

2. Công danh mà mau được, thời là thứ công danh do sự luồn cúi, cầu cạnh, mua bán.

3. Của cải mà mau được, là thứ của cải phi nhân, phi nghĩa. Tiến cho có tuần tiết, trật tự sẽ bảo toàn được lễ nghĩa, liêm sỉ.

LUẬN GIẢI

1. Phải biết được Thiên Cơ là Thượng Đế sinh ra loài người không phải để sống hưởng thụ, mà Ngài muốn chúng ta tiến hóa về mọi mặt, tiến lên để giống Ngài.

Về mặt Vật chất, ta phải tiến cao để tạo cho thế giới ngày thêm tươi đẹp, đầy đủ tiện nghi, cho con người được thoải mái phần nào sau nhiều giờ làm việc.

Về mặt Tinh thần, ta phải suy tư, tìm hiểu đâu là bản thể của mình, vì Thần của ta là gốc gác Thần Minh, ta phải biết đường để quay về với Thần Minh.

2. Phải có tài năng và biết lo mưu đồ lợi ích trường cửu cho nhân loại.

Phải trọng tín nghĩa, không được gặp ai cũng hứa hẹn nọ kia. Hành động luôn phải ôn hoà.

Phải biết giao tiếp, biết khiêm nhường, không kiêu ngạo, không kể công. Công thành, thân thoái, thiên chi đạo.

➜ Tóm lại: Phải tu tâm, dưỡng tính, rèn luyện tài năng để lo phụng sự mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại.